Thích Ca Mâu Ni

Học thuật
Thân thiện
Định nghĩa
  1. Danh từ riêng:
    • Tên gọi của Đức Phật, người sáng lập ra đạo Phật: "Thích Ca Mâu Ni" danh hiệu của vị Phật lịch sử, người đã từ bỏ đời sống vương giả để tìm ra con đường giải thoát chúng sinh khỏi khổ đau luân hồi.
dụ sử dụng
  • Danh từ riêng:
    • Giáo lý của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã lan tỏa khắp thế giới.
    • Các Phật tử thường tưởng niệm ngày Đức Thích Ca Mâu Ni đản sinh.
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Giáo pháp của Thích Ca Mâu Ni": chỉ toàn bộ hệ thống lời dạy, triết lý con đường tu tập do Đức Phật truyền lại.

    • Nghiên cứu giáo pháp của Thích Ca Mâu Ni giúp con người hiểu về Tứ Diệu Đế Bát Chánh Đạo.
  • "Theo gương Thích Ca Mâu Ni": hành động noi theo tấm gương từ bỏ dục lạc thế tục để tìm cầu chân lý lòng từ bi của Ngài.

    • Vị ấy quyết định theo gương Thích Ca Mâu Ni, rời bỏ cuộc sống giàu sang để xuất gia tu hành.
Biến thể từ gần giống
  • Đức Phật (danh từ): danh hiệu chung, thường dùng để chỉ Đức Thích Ca Mâu Ni sau khi Ngài đạt được giác ngộ.

    • Hình tượng Đức Phật tượng trưng cho sự an lạc trí tuệ.
  • Thái tử Tất-đạt-đa Cồ-đàm (danh từ riêng): tên gọi thời trẻ của Đức Thích Ca Mâu Ni trước khi xuất gia.

    • Thái tử Tất-đạt-đa đã chứng kiến cảnh sinh, lão, bệnh, tử bên ngoài hoàng cung.
  • Bổn Thích Ca Mâu Ni Phật (danh từ riêng): cách gọi trang trọng, thể hiện lòng tôn kính Đức Phật như vị thầy gốc.

    • Chúng con đảnh lễ Bổn Thích Ca Mâu Ni Phật.
Từ đồng nghĩa
  • Đức Thế Tôn: một tôn hiệu khác của Đức Phật, có nghĩabậc được thế gian tôn kính.
  • Đức Giáo Chủ: chỉ Ngài người sáng lập dẫn dắt một tôn giáo.
Thành ngữ liên quan
  • "Phật Thích Ca, Tổ Đạt Ma": thành ngữ thường dùng để chỉ hai vị khai sáng quan trọng của Phật giáo (Phật giáo Nguyên thủy Thiền tông).

    • Trong chùa thờ "Phật Thích Ca, Tổ Đạt Ma".
  • "Trở về nương tựa Phật Thích Ca": ý chỉ sự quay về nương theo giáo pháp, lấy Đức Phật làm thầy làm chỗ dựa tinh thần.

    • Sau bao năm lăn lộn, ông cảm thấy cần trở về nương tựa Phật Thích Ca.
  1. Thủy tổ Phật Giáo, con vua Suddtodama, sốngBắc ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 trước công nguyên. Theo tục lệ, bấy giờ ngài kết hôn rất sớm, năm 16 tuổi với một công chúa xinh đẹp, đức hạnh tên Yasohhama đã con. Sống trong cung điện với đầy đủ những thứ xa hoa tráng lệ nhưng bổng va chạm với thực tại cuộc sống khổ đau của loài người. Thái tử quyết định tìm đường ra khỏi nổi khổ bao la này. Năm 29 tuổi, ngài bỏ cung điện vào Tuyết Sơn tự tu hành trong 6 năm, rồui một buổi chiều ngồi dưới gốc cây (Từ đây, cây này được gọi là cây Bồ đề) trên bờ sông Neranjara, ngài đã đại giác ngộ từ đấy được tôn xưng đức Phật. Năm ấy ngài 38 tuổi. Sau khi chứng đạo, suốt 45 năm ngài ra sức giáo hóa tất cả mọi tầng lớp không phân biệt thành phần giai cấp. Năm 80 tuổi, ngài nhập tịch ở Kusinara